
1.TÌM HIỂU KINH DỊCH LÀ GÌ?
Kinh Dịch bộ sách kinh điển của nước Trung Hoa và văn hóa của quốc gia này, là một trong “Ngũ Kinh” của Trung Hoa, là một hệ thống tư tưởng triết học của người Trung Quốc cổ đại. đã có ảnh hưởng lớn trong nền văn hóa dùng chữ Hán, không những ở Trung Quốc mà cả ở Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên… Kinh dịch tương truyền do nhà tư tưởng sáng lập ra đạo Nho là Khổng Tử phỏng theo sách cổ soạn ra.
Tư tưởng triết học cơ bản dựa trên cơ sở của sự cân bằng thông qua đối kháng và thay đổi (chuyển dịch). Ban đầu, Kinh Dịch được coi là một hệ thống để bói toán, nhưng sau đó được phát triển dần lên bởi các nhà triết học Trung Hoa.
Cho tới nay, Kinh Dịch đã được bổ sung các nội dung nhằm diễn giải ý nghĩa cũng như truyền đạt các tư tưởng triết học cổ Á Đông và được coi là một tinh hoa của cổ học Trung Hoa.
2. LỊCH SỬ RA ĐỜI KINH DỊCH
Kinh Dịch được cho là có nguồn gốc từ huyền thoại Phục Hy .Theo nghĩa này thì ông là một nhà văn hóa, một trong Tam Hoàng của Trung Hoa thời thượng cổ (khoảng 2852-2738 TCN, theo huyền thoại), được cho người sáng tạo ra bát quái là tổ hợp của ba hào. Dưới triều vua Vũ nhà Hạ, bát quái đã phát triển thành quẻ, được ghi chép lại trong kinh Liên Sơn còn gọi là Liên Sơn Dịch. Liên Sơn, có nghĩa là “các dãy núi liên tiếp” trong tiếng Hoa, bắt đầu bằng quẻ Thuần Cấn với nội quái và ngoại quái đều là Cấn hay là Tiên Thiên Bát Quái.
Sau khi nhà Hạ bị nhà Thương thay thế, các quẻ sáu hào được suy diễn ra để tạo thành Quy Tàng (và quẻ Thuần Khôn trở thành quẻ đầu tiên. Trong Quy Tàng, đất (Khôn) được coi như là quẻ đầu tiên. Vào thời kỳ cuối của nhà Thương, vua Văn Vương nhà Chu diễn giải quẻ (gọi là thoán hay soán) và khám phá ra là quẻ Thuần Càn biểu lộ sự ra đời của nhà Chu. Sau đó ông miêu tả lại các quẻ theo bản chất tự nhiên của chúng trong Thoán Từ và quẻ Thuần Càn trở thành quẻ đầu tiên. Hậu Thiên Bát Quái ra đời.
Khi vua Chu Vũ Vương tiêu diệt nhà Thương, em ông là Chu Công Đán tạo ra Hào để giải thích dễ hiểu hơn ý nghĩa của mỗi hào trong mỗi quẻ. Tính triết học của nó ảnh hưởng mạnh đến chính quyền và văn học thời nhà Chu (khoảng 1122-256 TCN).
Muộn hơn, trong thời kỳ Xuân Thu (khoảng 722-481 TCN), Khổng Tử đã viết Thập Dực để chú giải Kinh Dịch. Ông nói “Nếu trời để cho ta sống thêm mươi năm nữa thì ta sẽ đọc thông Kinh Dịch. Năm mươi tuổi mới học Kinh Dịch cũng có thể không mắc phải sai lầm lớn.”. Vào thời Hán Vũ Đế Hàn Wǔ Dì) của nhà Tây Hán (khoảng 200 TCN), Thập Dực được gọi là Dịch truyện và cùng với Kinh Dịch nó tạo thành Chu Dịch
Trong hơn 50 năm qua, lịch sử “hiện đại” của Kinh Dịch đã trỗi dậy, dựa trên cơ sở các phê phán và tìm kiếm bản khắc mai rùa thời Thương và Chu cũng như bản khắc trên đồ đồng thời Chu
3. KINH DỊCH CƠ BẢN LÀ HỆ THỐNG QUY TẮC
Kinh Dịch có thể hiểu về bản chất chính là sự đúc kết kinh nghiệm sống của người cổ đại. Những đúc rút thành triết lý, trải qua hàng ngàn năm của văn minh Á Đông. Trên phạm vi tổng quát, vĩ mô, bao gồm tự nhiên, xã hội, con người và cả tri thức nhân loại trong việc cải tạo tự nhiên, kiến tạo xã hội và phát triển loài người.
4. PHÁP BẢO QUAN TRỌNG LÀ GÌ?
Kinh dịch lấy 3 “Pháp bảo” quan trọng làm nền tảng tư duy và sáng tạo. Đồng thời cũng chỉ ra các quy tắc căn bản của mọi sự vật hiên tượng xảy ra trên nhân thế này.
Pháp bảo Âm Dương: nguyên lý này chỉ ra rằng bất kỳ sự vật, hiện tượng nào trên nhân thế này cũng đều tồn tại đối lập. Nhưng chúng luôn chung sống trong một thể thống nhất không tách rời nhau. Việc cân bằng âm dương, cân bằng hợp lý thì mới có thể phát triển được.
Pháp bảo Ngũ Hành: nguyên lý này chỉ ra rằng vạn vật đều có linh hồn. Vật chất luôn tồn tại ở thế tương sinh, tương khắc. Cũng từ đó mà các luận đoán mệnh vận học, nhân học, địa lý phong thủy được sinh ra.
Pháp bảo Bát Quái: 8 cánh cửa của vũ trụ là lời giải cho mọi mật mã mà đại thiên thế giới mang đến. 64 quẻ được tạo ra từ 8 quẻ đơn của bát quái và có những lời bình giải cho từng quẻ này.
5. KINH DỊCH CƠ BẢN LÀ NỀN TẢNG CỦA MỌI LUẬN ĐOÁN
Chỉ cần thông tin giờ ngày tháng năm sinh của một người, giờ ngày tháng năm động tâm của một ai đó. Hay chỉ cần mấy chiếc lá, mấy cái số seri trên đồng tiền giấy hoặc vài đồng xu…thì những người biết kinh dịch học có thể luận đoán và giải thích được sự vật hiện tượng diễn ra.
Kinh Dịch được ứng dụng và phát huy chủ yếu trên phương diện Thuật Số. Thuật chỉ cách thức, phương pháp. Số chỉ lý khí, lý số, khí số. Kinh dịch học thông qua các quẻ dịch cung cấp các thông tin của quá khứ, hiện tại và vị lai. Nó là điềm báo về mật mã vũ trụ ban đầu là tổng thể các dấu hiệu thuận hay nghịch. Đồng thời, là thông dịch viên phiên dịch những bí ẩn hiện của thế giới quan.
Kinh dịch học hiện nay dùng chủ yếu để để dự đoán sự vận hành của vạn vật biến hóa khôn lường. Thông qua đó giúp con người hiểu được quy luật vận động của tự nhiên. Từ đó có thể ứng dụng vào cuộc sống ngày một tốt hơn. Kinh dịch học lý giải được các vấn đề siêu nhiên mà con người chúng ta khó tìm được giải pháp tức thì.
6. Ý NGHĨA KINH DỊCH
Cơ bản các ý nghĩa có quan hệ tương hỗ như sau:
GIẢN DỊCH – thực chất của mọi thực thể. Quy luật nền tảng của mọi thực thể trong vũ trụ là hoàn toàn rõ ràng và đơn giản, không cần biết là biểu hiện của nó là khó hiểu hay phức tạp.
BIẾN DỊCH – hành vi của mọi thực thể. Vạn vật trong vũ trụ là liên tục thay đổi. Nhận thức được điều này con người có thể hiểu được tầm quan trọng của sự mềm dẻo trong cuộc sống và có thể trau dồi những giá trị đích thực để có thể xử sự trong những tình huống khác nhau.
BẤT DỊCH – bản chất của thực thể. Vạn vật trong vũ trụ là luôn thay đổi, tuy nhiên trong những thay đổi đó luôn luôn tồn tại nguyên lý bền vững – quy luật trung tâm – là không đổi theo không gian và thời gian.
